Tinh thần yêu nước trong thơ Nguyễn Khắc Nhu

Filed Under (Đôi nét về Yên Bái) by Yen Bai on 09-02-2010

Tagged Under : , ,

(Kỷ niệm 80 năm cuộc khởi nghĩa Yên Bái, 9/2/1030 – 9/2/2010)

Ông sinh năm 1881, tại làng Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Xuất thân trong một gia đình Nho học, thuở nhỏ ông theo học khoa cử, năm 1912 đi thi Hương đứng đầu cả xứ Bắc Kỳ nên đương thời gọi là Đầu Xứ Nhu, gọi tắt là Xứ Nhu.
Ông không chỉ là một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân đảng, với chức vụtrưởng ban lập pháp, người có vai trò quan trọng trong đường lối đấutranh vũ trang của Việt Nam Quốc Dân đảng, mà còn là một nhà thơ chânchính. Mỗi trang, mỗi dòng như chính cuộc đời bi hùng của ông, chứachan tinh thần yêu nước, thương nòi.
Là một nhà nho chân chính, hết lòng yêu quê hương đất nước, ông chủtrương đấu tranh vũ trang chống thực dân cướp nước dành chính quyền, vìvậy thơ ông khác hẳn với những nhà nho đương thời: Đó là hơi thở củadân gian, mang cái hồn trí tuệ và tầm cao thời đại. Nơi ông sinh ra làcái nôi của nhiều làn điệu dân ca và văn học dân gian. Ngay từ nhỏ ôngđã từng theo một phương chèo đi khắp miền Bắc Giang, Bắc Ninh, LạngSơn. Những làn điệu dân ca đầy chất trí tuệ, nhưng không kém phần lạcquan thấm vào ông từ lúc nào. Chí lớn, hoài bão của ông được thể hiệnrõ nét trong thơ. Đây là câu đối treo trên tường lớp học, cùng bản đồthế giới: “Bích quải địa dư đồ, Tổ quốc giang sơn hà xứ tại?/ Đường tônnho giáo học, Nam cương tử đệ kiếp tông dư?”, có nghĩa là: Trên váchtreo bản đồ, Tổ quốc non sông đâu đó nhỉ?/ Trong nhà tôn nho học, cháucon đất nước nối dòng chăng? Ôi! Tình yêu đất nước, ý chí tự tôn dântộc cùng ý thức với thế hệ mai sau đau đáu trong lòng, để rồi sau nàythể hiện ra bằng hành động cụ thể: Đấu tranh cách mạng. Khi dạy học,vừa dạy chữ Quốc ngữ, vừa dạy chữ Nho, trước thế và lực hơn hẳn củathực dân Pháp, ông đã âm thầm tập hợp bạn bè cùng chí hướng, khéo léokhơi dậy tinh thần yêu nước trong nhân dân, đặc biệt chú ý đến sựnghiệp đào tạo thế hệ trẻ, ươm những hạt mầm cho đất nước mai sau:“Thầy xứ, hỡi thầy xứ!/ Một thầy một lũ trò con/ Khi ngồi lúc đứng đãchồn/ Hết bài Quốc ngữ lại dồn chữ Nho/ Miệng giảng nghĩa to to nhỏnhỏ/ Tay xếp bài sổ sổ khuyên khuyên/ Ngoài trông ra vẻ tự nhiên/ Trongthì ắt hẳn có phen chẳng thường”. Hai câu cuối của bài thơ chứa đầy ẩný, chí lớn được diễn đạt tinh tế và sâu sắc. Cái chí vẫy vùng cứu nướccứu dân ấy còn được gửi gắm qua một bài thơ trả lời một người bạn đồnghọc ở Bắc Giang mới được đổi đi làm thừa phái ở Hải Dương năm 1916:“Canh tàn rót chén biệt ly/ Xét mình mà lại thương vì cho ai/ Tấm thânlưu lạc quê người/ Trên đầu ngày lại sương phơi dần dần/ Nước trôi enhững sảy chân/ Lòng son còn có cổ nhân biết cùng/ Cũng nên vùng vẫyvẫy vùng/ Đương khi Mỹ vũ Âu phong thấm nhuần”. Ông khuyên con ngườihãy chú ý đến việc giữ gìn nhân cách, hơn là chỉ chú ý đến bề ngoài:“Tạo hóa sinh ra vốn ở truồng/ Áo quần che để khác cầm muông/ Rách lànhcốt giữ mầu thơm, sạch/ Đơn, kép tùy che lúc nắng sương/ Nết tốt vẫnthường nhiều kẻ chuộng/ Tài hèn, mặc gấm chẳng ai màng/ Người Tây kianhững mang gai vải/ Sao vẫn văn minh vẫn vẻ vang”. Bài thơ đầy phong vịdân gian, trào lộng mà thâm thúy, đặc biệt, tuy căm ghét giặc Tây cướpnước, nhưng ông vẫn đánh giá đúng mức những thành tựu của họ. Với bạn,ông chân tình, sâu nặng, luôn mong cho bạn gặp những điều tốt lành,nhắc nhở các bạn vận động thanh niên theo Âu học, hy vọng có ngày đấtnước ta có thể theo kịp những nước văn minh. Song ông không tha thứ chokẻ bất nhân bạc ác. Khi biết tên tri huyện Thụ Ngọc Lương của huyện VõGiảng, Bắc Ninh cũ tham lam, tàn ác, ông làm bài thơ cho dán trước cổnghuyện đường, cảnh cáo hắn: “Gớm ghiếc huyện quan Thụ Ngọc Lương/ Mồmthì lảm nhảm, mắt thì giương/ Mẹ cha tổng lý lòng không nể/ Bè bạn chântình dạ chẳng thương/ Xử kiện lèm nhèm như tổ đỉa/ Nã tiền đòn đánh tựađầu lươn/ Văn nhân sỹ tử nào đâu cả/ Xỏ khố khiêng lên trả tỉnh đường”.Dân gian truyền miệng rằng, đọc bài thơ, tuy miệng nói cứng, như Thụcũng e sợ và phải giảm bớt những hành động đàn áp bóc lột nhân dântrong huyện. Bài thơ của ông vừa răn đe kẻ bạc ác, vừa làm thức tỉnhsức mạnh trong mỗi người dân. Tư tưởng và chủ trương của ông được khẳngđịnh trong bài thơ viết sau khi Ba Danh – tên mộ phu khét tiếng thamtàn của thực dân Pháp bị trừng trị đích đáng: “Nặng lòng ưu ái khó làmthinh/ Dội máu nam nhi rửa bất bình/ Cướp nước, chém cha quân Phú –Lãng/ Cháy thành chết mẹ chú Ba Danh/ Gian nan những xót người tronghội/ Tâm sự nào ai kể với mình/ Hỡi hỡi anh em cùng gắng sức/ Phen nàyquét sạch lũ hôi tanh!”. Trong khi vận nước đang lúc khó khăn, nhưngNguyễn Khắc Nhu vẫn tin tưởng vào tương lai của dân tộc, của con đườngđấu tranh cách mạng mình đã lựa chọn. Ngay khi còn dạy học, ông đã chodán câu đối: “Thế giới văn minh vô chỉ cảnh/ Nhân quần tiến hóa hữu cơquan”, có nghĩa là: Văn minh thế giới không dừng bước/ Tiến hóa loàingười có chốt then”. Thực ra vế đầu của câu đối mang ẩn ý sâu xa: “Vănminh Nam Việt không dừng bước”.
Thơ của Nguyễn Khắc Nhu thể hiện rõ tình yêu với dân, với nước, yêughét phân minh, đầy suy tư trăn trở, nhưng những trăn trở suy tư ấykhông bi quan yếm thế như một số nhà nho đương thời. Mà cái phần tíchcực, năng động của nho giáo được ông tiếp thu, biến thành hành động cụthể.
Năm 1909, sau khi cả phong trào Đông du và Đông Kinh nghĩa thục đềubị tan vỡ, thực dân Pháp truy nã và bắt giam nhiều nhà chí sĩ, có cảPhan Bội Châu và Phan Chu Trinh.Nguyễn Khắc Nhu trốn sang Trung Quốc, tham gia vào cuộc vận động cứunước. Từ đó, ông chuyển dần xu sang hướng đấu tranh bạo động. Năm 1927,ông về nước cùng với các đồng chí thành lập Hội Việt Nam Dân Quốc, tổchức nhiều cuộc tập kích một số đồn Pháp ở Bắc Ninh, Đáp Cầu, Phả Lại…với ý định vũ trang khởi nghĩa. Năm 1928, ông sáp nhập hội Việt Nam DânQuốc vào Việt Nam Quốc Dân Đảng và ông được cử tham gia với vai trò làtrưởng ban Lập pháp của đảng. Ngày 9 tháng 2 năm 1930, ông trực tiếp chỉ huy trận đánh tập kích đồn binh Hưng Hoá và phủ lị Lâm Thao.Cuộc tập kích bất thành, bản thân ông bị trúng đạn nhưng vẫn tìm đườngtrốn thoát. Giữa đường ông dùng lựu đạn tự tử nhưng không chết và bịquân Pháp bắt được. Trên đường giải về trại giam, ông nhảy xuống sôngtự trầm, nhưng lại bị quân Pháp vớt được và đem về giam ông tại HưngHóa. Tại đây, ngày 11 tháng 2 năm 1930, ông đập đầu vào tường giam tựtử để bảo toàn khí tiết, hưởng dương 49 tuổi.
Nhân dân vô cùng thương tiếc và cảm phục, nhiều người lập bài vị thờcúng và làm nhiều bài thơ, câu đối tưởng nhớ người anh hùng đã anh dũnghy sinh vì dân vì nước. Đặc biệt một nhà nho đã lập bài vị thờ cùng câuđối được nhân dân khắp nơi truyền tụng: “Vị dân quyên sinh, vị Quốcquyên sinh, vị đảng nghĩa quyên sinh, thệ bất câu sinh đối thủ tặc/ Kỳtâm bất tử, kỳ danh bất tử, kỳ tinh thần bất tử, quyết tương nhất tửkhích đồng bào”. Có nghĩa là: Vì dân quyên sinh, vì nước quyên sinh, vìđảng nghĩa quyên sinh, thề chẳng tham sinh nhìn giặc nước/ Lòng ôngkhông chết, danh ông không chết, tinh thần ông không chết, quyết đemcái chết giục đồng bào.Ngày nay nhiều con đường, ngôi trường trên đất nước ta được vinh dự mang tên Nguyễn Khắc Nhu. Ông sống mãi trong lòng dân tộc.

Post a comment